fbpx

Vì Một Cộng Đồng Vững Mạnh

Bản Tin Hàng Tuần

Hàng tuần, Hội Đồng Quản Trị soạn ra một bản thông tin bao gồm tin tức, thông báo và những bài viết được chọn lọc.

Xem thêm …

30 Tháng 4

30 Tháng 4

Nếu có ai trong chúng ta hỏi thử con em mình hay một bạn trẻ nào đó “30 tháng 4 là ngày gì vậy?”

Xem thêm …

Tết Trung Thu 2030

TẾT TRUNG THU 2030 !!!

Một trong những niềm hạnh phúc lớn của chúng ta là được thấy con cái mình nên người, trở thành những thanh niên thiếu nữ đàng hoàng, tử tế, có tư cách, biết nhường nhịn.

Xem thêm …

Quán Phở Cộng Đồng

Quán Phở Cộng Đồng

Quán Phở mở cửa từ 10:30 sng đến 2:30 chiều mỗi thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ Nhật hàng tuần.

Vì nạn dịch COVID-19 nên Quán Phở sẽ đóng cửa cho đến khi có thông báo mới. Kính mong quý đồng hương được an lành và khỏe mạnh.

Thuê Mướn Hội Trường

Hội trường Tự Do có sức chứa khoảng 300 chỗ ngồi, sân khấu trang trí hiện đại, có nhà bếp để phục vụ thức ăn nhẹ, thích hợp cho các buổi sinh hoạt, văn nghệ, tiệc tùng, đám cưới, sinh nhật, v.v… Xin liên lạc Văn phòng Cộng ̣Đồng hoặc xem hướng dẫn mướn Hội trường tại đây.

Cập Nhật Thông Tin qua Facebook

Comments Box SVG iconsUsed for the like, share, comment, and reaction icons

Suy nghĩ của một nhà giáo
(Nguồn: Chu Mộng Long)

TỰ TRỌNG - nôm na là biết coi trọng danh dự của mình.

Người có lòng tự trọng luôn biết xấu hổ, nhục nhã khi phạm lỗi và biết phải làm gì để khắc phục lỗi lầm, kể cả tự sát khi cảm thấy lỗi lầm không thể khắc phục được.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gần như chỉ xoay quanh một từ TỰ TRỌNG, rất giản dị. Từ này được viết trên các vách tường của trường học để nó in sâu vào trong lòng học sinh.

Sau năm 1975, trên các vách tường cũ, từ TỰ TRỌNG đã bị người ta bôi vôi và dần xóa sạch, thay vào đó là các khẩu hiệu lòe loẹt, đủ các loại châm ngôn, danh ngôn cách mạng.

Họ đã làm điều K.Marx từng phê phán:

"Mọi sự khoa trương lòe loẹt bên ngoài chỉ nhằm mục đích che đậy một chất lượng kém cỏi bên trong."

Marx nói về hàng hóa, nhưng hoàn toàn đúng cho vấn đề nhân cách. Càng nhiều khẩu hiệu lòe loẹt càng phô trương thứ nhân cách, đạo đức giả.

www.facebook.com/Chumonglong/posts/3633625026651714
... See MoreSee Less

Suy nghĩ của một nhà giáo
(Nguồn: Chu Mộng Long)

TỰ TRỌNG - nôm na là biết coi trọng danh dự của mình. 

Người có lòng tự trọng luôn biết xấu hổ, nhục nhã khi phạm lỗi và biết phải làm gì để khắc phục lỗi lầm, kể cả tự sát khi cảm thấy lỗi lầm không thể khắc phục được.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa gần như chỉ xoay quanh một từ TỰ TRỌNG, rất giản dị. Từ này được viết trên các vách tường của trường học để nó in sâu vào trong lòng học sinh. 

Sau năm 1975, trên các vách tường cũ, từ TỰ TRỌNG đã bị người ta bôi vôi và dần xóa sạch, thay vào đó là các khẩu hiệu lòe loẹt, đủ các loại châm ngôn, danh ngôn cách mạng. 

Họ đã làm điều K.Marx từng phê phán: 

Mọi sự khoa trương lòe loẹt bên ngoài chỉ nhằm mục đích che đậy một chất lượng kém cỏi bên trong.

Marx nói về hàng hóa, nhưng hoàn toàn đúng cho vấn đề nhân cách. Càng nhiều khẩu hiệu lòe loẹt càng phô trương thứ nhân cách, đạo đức giả. 

https://www.facebook.com/Chumonglong/posts/3633625026651714

Bức Tượng Thương Tiếc
(Nguồn: FB Lịch sự hiện đại: chiến tranh và cách mạng)

Đây vốn là bức tượng đặt trước nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nghĩa trang lớn nhất của các tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Tuy sau khi Sài Gòn thất thủ, chính quyền Cộng Sản đã giật sập và phá bỏ bức tượng Thương Tiếc trên. Còn nghĩa trang Biên Hòa cũng bị ngăn cấm không cho ai vãng lai, thăm viếng mộ phần khiến nghĩa trang trở nên đổ nát và hư hỏng rất nhiều. Thậm chí còn có dấu hiệu phá hoại mộ phần ở đó.

Tới gần đây nghĩa trang Biên Hòa mới được mở cửa trở lại với tên nghĩa trang "Bình An", một nghĩa trang dân sự.

Còn câu chuyện về tượng Thương Tiếc thì như sau:

Bức tượng đồng mang tên Thương Tiếc tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hoàn thành vào năm 1966. Đây là thời điểm chiến tranh đang diễn ra tới mức độ ác liệt.

Vào thời đó, Nghĩa Trang Quân Đội VNCH tọa lạc ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất lộn xộn. Dân chúng bị xách động biểu tình liên miên. Còn các đảng phái thì đua nhau tranh giành ảnh hưởng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Lúc bấy giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn đang là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tổng thống Thiệu là người đã nghĩ ra việc xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội nằm cạnh xa lộ Biên Hòa.

Điêu khắc gia Thu tâm sự rằng, ông không biết tại sao lúc đó TT. Thiệu lại biết đến ông để mời ông vào bàn về dự án xây Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa. Nhưng sau này TT. Thiệu cho biết đã biết tài điêu khắc của ông qua tác phẩm "Ngày Về", khi TT. Thiệu còn là đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 bộ binh.

Khi gặp mặt TT. Thiệu, ông Thiệu đã nói với ĐKG. Thu, là ông muốn trước cổng vào nghĩa trang phải có một bức tượng to lớn đầy ý nghĩa đặt ở đó. Mục đích bức tượng để nhắc nhở, giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ VNCH.

Điêu khắc gia Thu kể tiếp là sau năm lần, bảy lượt gặp TT. Thiệu bàn bạc, ông hứa sẽ trình dự án lên TT. Thiệu sau một tuần lễ nghiên cứu. Khi về nhà ông mất ăn, mất ngủ, lo lắng ngày đêm. Đầu óc ông lúc nào cũng suy nghĩ đến những đề tài có ý nghĩa như ý của TT. Nguyễn Văn Thiệu. Ông nhớ đến lời TT. Thiệu nói: “Những chiến sĩ VNCH, đã vì lý tưởng tự do hy sinh đời mình thì những người ở hậu phương như “chúng ta” phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”. Những lời chân tình này đã làm điêu khắc gia Thu trăn trở không nguôi nên trong thời gian chờ đợi gặp lại TT. Thiệu, ngày nào ông cũng đến Nghĩa Trang Quân Đội tại Hạnh Thông Tây để suy ngẫm đề tài.

Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT. Thiệu thì hết sáu ngày, điêu khắc gia Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phát họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghĩ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.

Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, ông Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia.

Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân mắt quắc tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết. Thái độ này làm ông lúng túng. Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai. Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi. Vì tò mò, ông mở bóp ra coi. Trong bóp, ông nhìn thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi cầm bóp trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp TT. Thiệu .

Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.

Bảy bản mẫu của Nguyễn Thanh Thu phát họa là cảnh người lính đang chiến đấu ngoài chiến trường, cảnh mưa bão ngoài mặt trận. Phản ảnh lại cảnh êm ấm của những người tại hậu phương. Khi ngồi vẽ đầu óc ông cứ liên tưởng đến vóc dáng buồn thảm của Võ Văn Hai và ông ngồi vẽ cho tới 6 giờ sáng.

Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp TT. Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, đại tá Võ văn Cầm là Chánh Văn Phòng của TT. Thiệu cho biết TT. đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phát họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không. Ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài. Điêu khắc gia Thu đã dùng mặt trong của bao thuốc lá phát họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.

Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp TT. Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước cho TT. Thiệu nghe. Xem xong TT. Thiệu hỏi: “Anh Thu à! Bảy bản, bản nào tôi cũng thích nhưng anh là cha đẻ của nó, anh nên cho tôi biết tấm nào hay nhứt.” Điêu khắc gia Thu rụt rè nói với TT. Thiệu : “Thưa TT, mới đây thôi trong khoảng 15 phút trong khi chờ gặp TT. tôi mới nghĩ ra một đề tài được phát họa trên một bao thuốc lá. Nhưng, tôi không dám vô lễ trình lên TT. Tuy nhiên, với phát họa này tôi thấy nó hay quá. Tổng thống hỏi, thì tôi muốn chọn bản này, nhưng tôi không dám trình lên Tổng Thống.”

TT. Thiệu bảo ĐKG. Thu đưa cho ông coi bản họa trên bao thuốc lá. Ông Thu đã giải thích cho TT. Thiệu nghe về trường hợp Võ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khóat đặt tên cho các bản phát họa đã trình cho TT. Thiệu xem dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như:

1)Tình đồng đội, 2) Khóc bạn , 3) Nhớ nhung, 4) Thương tiếc, 5) Tiếc thương .

Cuối cùng điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu và TT. Thiệu đồng ý tên Thương Tiếc. Được sự đồng ý của TT. Thiệu, ông ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá. Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen. ĐKG. Thu đã đề nghị TT. Thiệu ký tên vào bức họa đó, mà ông đã nói với TT. Thiệu là “Cho ngàn năm muôn thuở” . TT. Thiệu đồng ý và đã viết “TT. Nguyễn văn Thiệu ngày 14 /8/1966 ”.

Sau khi được TT. Thiệu chấp thuận dự án làm bức tượng Thương Tiếc, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu phải làm ngày, làm đêm để kịp khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vào ngày Quốc khánh 1/11/1966 đúng như dự định.

Sau này, ĐKG Nguyễn Thanh Thu trở nên rất nổi danh với các tác phẩm điêu khắc của mình. Tuy nhiên cũng vì đó nên sau khi chính thể VNCH sụp đổ, ông bị bắt đi cải tạo 8 năm dưới chính quyền mới và phải chịu đựng điều kiện lao tù hết sức khổ cực vì đã là người đúc nên bức tượng "Thương tiếc" cùng cáo buộc " lưu lại tư tưởng phản động qua các tác phẩm".
... See MoreSee Less

Bức Tượng Thương Tiếc
(Nguồn: FB Lịch sự hiện đại: chiến tranh và cách mạng)

Đây vốn là bức tượng đặt trước nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nghĩa trang lớn nhất của các tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Tuy sau khi Sài Gòn thất thủ, chính quyền Cộng Sản đã giật sập và phá bỏ bức tượng Thương Tiếc trên. Còn nghĩa trang Biên Hòa cũng bị ngăn cấm không cho ai vãng lai, thăm viếng mộ phần khiến nghĩa trang trở nên đổ nát và hư hỏng rất nhiều. Thậm chí còn có dấu hiệu phá hoại mộ phần ở đó.

Tới gần đây nghĩa trang Biên Hòa mới được mở cửa trở lại với tên nghĩa trang Bình An, một nghĩa trang dân sự.

Còn câu chuyện về tượng Thương Tiếc thì như sau:

Bức tượng đồng mang tên Thương Tiếc tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa được điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu hoàn thành vào năm 1966. Đây là thời điểm chiến tranh đang diễn ra tới mức độ ác liệt.

Vào thời đó, Nghĩa Trang Quân Đội VNCH tọa lạc ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Tình hình trong nước lúc bấy giờ rất lộn xộn. Dân chúng bị xách động biểu tình liên miên. Còn các đảng phái thì đua nhau tranh giành ảnh hưởng đối với Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Lúc bấy giờ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn đang là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Tổng thống Thiệu là người đã nghĩ ra việc xây dựng Nghĩa Trang Quân Đội nằm cạnh xa lộ Biên Hòa.

Điêu khắc gia Thu tâm sự rằng, ông không biết tại sao lúc đó TT. Thiệu lại biết đến ông để mời ông vào bàn về dự án xây Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa. Nhưng sau này TT. Thiệu cho biết đã biết tài điêu khắc của ông qua tác phẩm Ngày Về, khi TT. Thiệu còn là đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 bộ binh.

Khi gặp mặt TT. Thiệu, ông Thiệu đã nói với ĐKG. Thu, là ông muốn trước cổng vào nghĩa trang phải có một bức tượng to lớn đầy ý nghĩa đặt ở đó. Mục đích bức tượng để nhắc nhở, giáo dục người dân về sự hy sinh cao quý của các chiến sĩ VNCH.

Điêu khắc gia Thu kể tiếp là sau năm lần, bảy lượt gặp TT. Thiệu bàn bạc, ông hứa sẽ trình dự án lên TT. Thiệu sau một tuần lễ nghiên cứu. Khi về nhà ông mất ăn, mất ngủ, lo lắng ngày đêm. Đầu óc ông lúc nào cũng suy nghĩ đến những đề tài có ý nghĩa như ý của TT. Nguyễn Văn Thiệu. Ông nhớ đến lời TT. Thiệu nói: “Những chiến sĩ VNCH, đã vì lý tưởng tự do hy sinh đời mình thì những người ở hậu phương như “chúng ta” phải làm một cái gì để nhớ đến sự hy sinh cao cả đó cho xứng đáng”. Những lời chân tình này đã làm điêu khắc gia Thu trăn trở không nguôi nên trong thời gian chờ đợi gặp lại TT. Thiệu, ngày nào ông cũng đến Nghĩa Trang Quân Đội tại Hạnh Thông Tây để suy ngẫm đề tài.

Trong bảy ngày hứa sẽ gặp lại TT. Thiệu thì hết sáu ngày, điêu khắc gia Thu đến Nghĩa Trang Quân Đội Hạnh Thông Tây để phát họa những cảm xúc chân thật trong lòng tại chỗ. Ông đã chứng kiến cảnh, ngày ngày máy bay trực thăng đưa quan tài những người đã hy sinh vì tổ quốc về nơi an nghĩ cuối cùng với sự cảm xúc vô biên, nhưng vẫn chưa dứt khoát được một chủ đề rõ ràng.

Vào một buổi trưa của ngày thứ sáu trên đường về từ Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây, giữa trời nắng chang chang, ông Thu ghé vào một tiệm nước bên đường để giải khát. Khi bước vào quán, ông thấy một quân nhân Nhảy Dù đang ngồi uống bia và trên bàn đã có 5,3 chai không. Đặc biệt trên bàn có hai cái ly. Ngồi bàn đối diện với người quân nhân kia, ông lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy người lính Nhảy Dù vừa uống bia vừa lẩm bẩm nói chuyện với cái ly không. Hình ảnh này cho thấy anh ta vừa uống vừa nói chuyện và vừa cúng một người đã chết. Khi nói chuyện với cái ly xong, người lính uống hết ly bia của mình. Sau đó, anh ta “xớt” bia của cái ly cúng còn nguyên vào ly mình, rồi lại kêu thêm một chai bia mới rót đầy vào ly kia. 

Thấy vậy, ông bước qua làm quen với người lính Nhảy Dù và đề nghị cho ông ngồi chung bàn. Người quân nhân mắt quắc tỏ vẻ không bằng lòng vì bị phá cuộc đối ẩm của anh và người đã chết. Thái độ này làm ông lúng túng. Đột nhiên, người lính kia móc ra cái bóp đựng giấy tờ của anh ta ra và đưa cho ông như trình giấy cho Quân Cảnh. Ông nghĩ rằng mình đâu phải là Quân Cảnh mà xét giấy ai. Tuy nhiên ông cũng cầm lấy bóp và trở về chỗ ngồi. Vì tò mò, ông mở bóp ra coi. Trong bóp, ông nhìn thấy những tấm hình trắng đen chụp cảnh các anh em đồng đội nơi chiến trường. Muốn làm quen với người lính Nhảy Dù, nên ông cố nhớ địa chỉ và KBC của anh ta trước khi cầm bóp trả lại cho chủ nó. Sau đó, ông ra về để chuẩn bị ngày hôm sau lên gặp TT. Thiệu .

Tối hôm đó, điêu khắc gia Thu vẽ liền 7 bản mẫu. Khi ngồi vẽ như vậy đầu óc ông cứ nhớ đến hình ảnh ngồi uống bia một mình với gương mặt buồn bã của người lính Nhảy Dù, mà qua căn cước ông biết tên là Võ Văn Hai.

Bảy bản mẫu của Nguyễn Thanh Thu phát họa là cảnh người lính đang chiến đấu ngoài chiến trường, cảnh mưa bão ngoài mặt trận. Phản ảnh lại cảnh êm ấm của những người tại hậu phương. Khi ngồi vẽ đầu óc ông cứ liên tưởng đến vóc dáng buồn thảm của Võ Văn Hai và ông ngồi vẽ cho tới 6 giờ sáng.

Đến 8 giờ sáng thì có người đến rước ông vào gặp TT. Thiệu tại Dinh Gia Long. Đến nơi, đại tá Võ văn Cầm là Chánh Văn Phòng của TT. Thiệu cho biết TT. đang tiếp chuyện một vị tướng nào đó nên bảo ông đợi một chút. Trong lúc đợi, ông ra phía ngoài đi lang thang trên hành lang của dinh và vừa đi vừa nghĩ trong đầu là tại sao mình không vẽ Võ văn Hai cho rõ ràng. Nghĩ vậy ông ngồi xuống một chiếc ghế cẩn màu đỏ tưởng tượng đến hình ảnh Võ văn Hai ngồi buồn rầu, ủ dột trong quán nước. Ông trở vào phòng Đại tá Cầm định xin một tờ giấy để phát họa những ý tưởng đã nghĩ ra. Nhưng khi trở vào trong, ông ngại ngùng không dám lên tiếng. Ông nhìn phía sau lưng Đại tá Cầm thấy trong giỏ rác có một bao thuốc lá không. Ông lượm bao thuốc lá và trở ra ngoài. Điêu khắc gia Thu đã dùng mặt trong của bao thuốc lá phát họa bố cục bản thảo và cảm thấy hài lòng về bức hình đã vẽ ra.

Khi được Đại tá Cầm mời vào gặp TT. Thiệu, ông đã trình bày giải thích về 7 bản đã vẽ từ trước cho TT. Thiệu nghe. Xem xong TT. Thiệu hỏi: “Anh Thu à! Bảy bản, bản nào tôi cũng thích nhưng anh là cha đẻ của nó, anh nên cho tôi biết tấm nào hay nhứt.” Điêu khắc gia Thu rụt rè nói với TT. Thiệu : “Thưa TT, mới đây thôi trong khoảng 15 phút trong khi chờ gặp TT. tôi mới nghĩ ra một đề tài được phát họa trên một bao thuốc lá. Nhưng, tôi không dám vô lễ trình lên TT. Tuy nhiên, với phát họa này tôi thấy nó hay quá. Tổng thống hỏi, thì tôi muốn chọn bản này, nhưng tôi không dám trình lên Tổng Thống.”

TT. Thiệu bảo ĐKG. Thu đưa cho ông coi bản họa trên bao thuốc lá. Ông Thu đã giải thích cho TT. Thiệu nghe về trường hợp Võ Văn Hai mà ông đã gặp trong quán nước. Ông Thu cho biết, lúc đó ông cũng chưa dứt khóat đặt tên cho các bản phát họa đã trình cho TT. Thiệu xem dù rằng đã nghĩ trong đầu các tên như:

1)Tình đồng đội, 2) Khóc bạn , 3) Nhớ nhung, 4) Thương tiếc, 5) Tiếc thương .

Cuối cùng điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu và TT. Thiệu đồng ý tên Thương Tiếc. Được sự đồng ý của TT. Thiệu, ông ra ngoài văn phòng của Đại tá Cầm phóng lớn bức họa Thương Tiếc bằng hình màu. Ông đã nhờ Đại tá Cầm ngồi trên một chiếc ghế đẩu để lấy dáng ngồi tưởng tượng trên tảng đá. Sau khi hoàn tất, Tổng thống Thiệu cầm bức họa tấm tắc khen. ĐKG. Thu đã đề nghị TT. Thiệu ký tên vào bức họa đó, mà ông đã nói với TT. Thiệu là “Cho ngàn năm muôn thuở” . TT. Thiệu đồng ý và đã viết “TT. Nguyễn văn Thiệu ngày 14 /8/1966 ”.

Sau khi được TT. Thiệu chấp thuận dự án làm bức tượng Thương Tiếc, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu phải làm ngày, làm đêm để kịp khánh thành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa vào ngày Quốc khánh 1/11/1966 đúng như dự định.

Sau này, ĐKG Nguyễn Thanh Thu trở nên rất nổi danh với các tác phẩm điêu khắc của mình. Tuy nhiên cũng vì đó nên sau khi chính thể VNCH sụp đổ, ông bị bắt đi cải tạo 8 năm dưới chính quyền mới và phải chịu đựng điều kiện lao tù hết sức khổ cực vì đã là người đúc nên bức tượng Thương tiếc cùng cáo buộc  lưu lại tư tưởng phản động qua các tác phẩm.

Comment on Facebook 1073506116035530_3330918976960888

Một huyen thoai đẹp ve cuộc chiến tranh Nam - Bac... va kết cuc bi thuong sau nam 75, lam to ro ban chat hen ha , ti tien, vo van hoa, vo dao duc cua ben thang cuộc!...

Salem Chau

BẢN LĨNH ĐÀI LOAN: KHÔNG CA CẨM ĐỔ LỖI
Bài học cho Việt Nam chúng ta

(Nguồn: Facebook @Nguyễn- Chương MT)

* Nếu chỉ biết chửi rủa "Mỹ bỏ rơi đồng minh", lẩn quẩn "đổ tội cho Mỹ"... sau cú té bổ ngửa (Đài Loan bị cho ra rìa khỏi Hội đồng Bảo an LHQ), Đài Loan ắt liệt kháng ngay, không tài nào có được sức phát triển lớn mạnh như hiện nay!

GPP đầu người (dựa trên sức mua thực tế) của Đài Loan là 53,023 USD/đầu người trong khi nước Trung Quốc thua xa lắc chỉ 18,110 USD/đầu người (theo số liệu năm 2018 của Quỹ Tiền tệ quốc tế).

Người Đài Loan không mắc căn bịnh ưa đi đổ lỗi, họ tỉnh táo và khôn ngoan hơn nhiều.

*&*
Cái lúc chánh quyền Tưởng Giới Thạch (Đài Loan) bị cho ra rìa bởi Nghị quyết 2758 của Đại hội đồng LHQ (tháng 10 năm 1971), nếu như Mỹ phủ quyết (veto) thì chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng...!

Họ Tưởng đành phải nuốt liều thuốc đắng ngắt. Tuy nhiên, bản lĩnh của họ Tưởng, bản lĩnh của Đài Loan - thay vì đổ lỗi - là tận lực tìm ra cách "hóa giải" liều thuốc đắng.

Đài Loan thừa hiểu người Mỹ có kế sách ngoại giao riêng với Bắc Kinh; nói nào ngay, người Mỹ hoàn toàn có quyền tính toán lợi ích ưu tiên cho nước Mỹ.

Vậy là một chiến lược lobby của Đài Loan chạy ráo riết từ cuối năm 1971 cho đến năm 1979, quãng thời gian này Mỹ vẫn đặt Đại sứ quán tại Đài Bắc (chỉ đến năm 1979, Mỹ mới mở đại sứ quán tại Bắc Kinh, đóng cửa đại sứ quán tại Đài Bắc).

Tựu trung lại, lobby của Đài Bắc:
- Thuyết phục giới chính khách nước Mỹ quan tâm tới những bất lợi, thiệt hại nếu Mỹ bỏ rơi hẳn Đài Loan;
- Không chỉ đặt mỗi một "cửa lobby" nơi Tổng thống: Dù có nhận được cam kết hậu thuẫn bí mật của Tổng thống Mỹ nhưng Tổng thống chỉ có tối đa 8 năm nắm giữ quyền lực rồi stop, chưa kể có khi phải stop sớm hơn như trường hợp TT Nixon với vụ Watergate;
Thành thử Đài Loan đặt thêm "cửa lobby" nơi Quốc hội lưỡng viện Mỹ. Cam kết của Quốc hội Mỹ là cam kết công khai, mang lấy danh dự của nước Mỹ, lâu bền hơn.

Kết quả: vào tháng 4 năm 1979, Quốc hội Mỹ thông qua dự luật (bill) sau đó đưa qua Tổng thống Mỹ đồng thuận, ký ban hành "Đạo luật Quan hệ Đài Loan" (Taiwan Relations Act, T.R.A) - theo đó nước Mỹ cam kết bảo vệ Đài Loan không bị sáp nhập bởi võ lực từ Bắc Kinh.

Cũng trong năm 1979, Mỹ chính thức bang giao với Bắc Kinh. Nhưng, lúc này, người Đài Loan đã kịp có T.R.A làm tấm khiên phòng thủ hữu hiệu. Từ đó tới nay, hòn đảo nhỏ bé này đứng vững mặc cho Bắc Kinh lớn tiếng hù dọa.

Đài Loan tinh thông, giỏi quyền biến về chánh trị là vậy.

Họ chấp nhận người Mỹ có quyền "bắt tay" với Bắc Kinh vì quyền lợi của nước Mỹ; nhưng họ biết cách ràng buộc người Mỹ phải có trách nhiệm với họ.

*&*
Do chính sách "ngoại giao loại trừ" của Bắc Kinh, nên nhiều quốc gia đóng cửa đại sứ quán tại Đài Bắc để mở đại sứ quán tại Bắc Kinh. Có tới hơn 60 nước lần lượt "bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ", coi còn buồn hơn chấu cắn.

Một lần nữa, Đài Loan chứng tỏ bản lĩnh, không rên rỉ. Họ biết cách vận động để hết thảy các quốc gia hàng đầu trong G7 đều mở văn phòng liên lạc về thương mại, văn hóa... tại Đài Bắc! Và hàng chục quốc gia khác nữa, cũng vẫn có "văn phòng đại diện" trên xứ sở Đài Loan.

Về thực chất, những văn phòng đó kiêm thêm một số chức năng của đại sứ quán (như cấp thị thực visa nhập cảnh...).

Nhắc lại những bi kịch của Đài Loan: hết bị hất khỏi Hội đồng Bảo an LHQ, lại bị "nhiều người tình" dời nhà qua nơi khác đặt đại sứ quán, nhìn đi nhìn lại chỉ còn một số ít quốc gia vẫn giữ trọn tình mà không dời nhà như Thánh quốc Vatican...

Nếu gặp phải một dân tộc yếu ý chí và kém về chiến lược chánh trị thì chỉ còn cách đầu hàng, gục ngã từ khuya, và chỉ còn biết cất tiếng bi ai nào là "vận nước nổi trôi", nào là "thân phận nhược tiểu" (như kiểu, nói thẳng luôn, là người Việt Nam chúng ta), nghe xong muốn tắt thở cho rồi.

Bản lĩnh khôn ngoan chánh trị, không ca cẩm đổ lỗi, nói cho cùng, là bài học cần thiết không riêng cho Đài Loan!
... See MoreSee Less

BẢN LĨNH ĐÀI LOAN: KHÔNG CA CẨM ĐỔ LỖI
Bài học cho Việt Nam chúng ta

(Nguồn: Facebook @Nguyễn- Chương MT)

* Nếu chỉ biết chửi rủa Mỹ bỏ rơi đồng minh, lẩn quẩn đổ tội cho Mỹ... sau cú té bổ ngửa (Đài Loan bị cho ra rìa khỏi Hội đồng Bảo an LHQ), Đài Loan ắt liệt kháng ngay, không tài nào có được sức phát triển lớn mạnh như hiện nay! 

GPP đầu người (dựa trên sức mua thực tế) của Đài Loan là 53,023 USD/đầu người trong khi nước Trung Quốc thua xa lắc chỉ 18,110 USD/đầu người (theo số liệu năm 2018 của Quỹ Tiền tệ quốc tế).

Người Đài Loan không mắc căn bịnh ưa đi đổ lỗi, họ tỉnh táo và khôn ngoan hơn nhiều.

*&*
Cái lúc chánh quyền Tưởng Giới Thạch (Đài Loan) bị cho ra rìa bởi Nghị quyết 2758 của Đại hội đồng LHQ (tháng 10 năm 1971), nếu như Mỹ phủ quyết (veto) thì chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng...!

Họ Tưởng đành phải nuốt liều thuốc đắng ngắt. Tuy nhiên, bản lĩnh của họ Tưởng, bản lĩnh của Đài Loan - thay vì đổ lỗi - là tận lực tìm ra cách hóa giải liều thuốc đắng.

Đài Loan thừa hiểu người Mỹ có kế sách ngoại giao riêng với Bắc Kinh; nói nào ngay, người Mỹ hoàn toàn có quyền tính toán lợi ích ưu tiên cho nước Mỹ.

Vậy là một chiến lược lobby của Đài Loan chạy ráo riết từ cuối năm 1971 cho đến năm 1979, quãng thời gian này Mỹ vẫn đặt Đại sứ quán tại Đài Bắc (chỉ đến năm 1979, Mỹ mới mở đại sứ quán tại Bắc Kinh, đóng cửa đại sứ quán tại Đài Bắc).

Tựu trung lại, lobby của Đài Bắc:
- Thuyết phục giới chính khách nước Mỹ quan tâm tới những bất lợi, thiệt hại nếu Mỹ bỏ rơi hẳn Đài Loan;
- Không chỉ đặt mỗi một cửa lobby nơi Tổng thống: Dù có nhận được cam kết hậu thuẫn bí mật của Tổng thống Mỹ nhưng Tổng thống chỉ có tối đa 8 năm nắm giữ quyền lực rồi stop, chưa kể có khi phải stop sớm hơn như trường hợp TT Nixon với vụ Watergate;
Thành thử Đài Loan đặt thêm cửa lobby nơi Quốc hội lưỡng viện Mỹ. Cam kết của Quốc hội Mỹ là cam kết công khai, mang lấy danh dự của nước Mỹ, lâu bền hơn.

Kết quả: vào tháng 4 năm 1979, Quốc hội Mỹ thông qua dự luật (bill) sau đó đưa qua Tổng thống Mỹ đồng thuận, ký ban hành Đạo luật Quan hệ Đài Loan (Taiwan Relations Act, T.R.A) - theo đó nước Mỹ cam kết bảo vệ Đài Loan không bị sáp nhập bởi võ lực từ Bắc Kinh.

Cũng trong năm 1979, Mỹ chính thức bang giao với Bắc Kinh. Nhưng, lúc này, người Đài Loan đã kịp có T.R.A làm tấm khiên phòng thủ hữu hiệu. Từ đó tới nay, hòn đảo nhỏ bé này đứng vững mặc cho Bắc Kinh lớn tiếng hù dọa.

Đài Loan tinh thông, giỏi quyền biến về chánh trị là vậy.

Họ chấp nhận người Mỹ có quyền bắt tay với Bắc Kinh vì quyền lợi của nước Mỹ; nhưng họ biết cách ràng buộc người Mỹ phải có trách nhiệm với họ.

*&*
Do chính sách ngoại giao loại trừ của Bắc Kinh, nên nhiều quốc gia đóng cửa đại sứ quán tại Đài Bắc để mở đại sứ quán tại Bắc Kinh. Có tới hơn 60 nước lần lượt bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ, coi còn buồn hơn chấu cắn.

Một lần nữa, Đài Loan chứng tỏ bản lĩnh, không rên rỉ. Họ biết cách vận động để hết thảy các quốc gia hàng đầu trong G7 đều mở văn phòng liên lạc về thương mại, văn hóa... tại Đài Bắc! Và hàng chục quốc gia khác nữa, cũng vẫn có văn phòng đại diện trên xứ sở Đài Loan.

Về thực chất, những văn phòng đó kiêm thêm một số chức năng của đại sứ quán (như cấp thị thực visa nhập cảnh...).

Nhắc lại những bi kịch của Đài Loan: hết bị hất khỏi Hội đồng Bảo an LHQ, lại bị nhiều người tình dời nhà qua nơi khác đặt đại sứ quán, nhìn đi nhìn lại chỉ còn một số ít quốc gia vẫn giữ trọn tình mà không dời nhà như Thánh quốc Vatican...

Nếu gặp phải một dân tộc yếu ý chí và kém về chiến lược chánh trị thì chỉ còn cách đầu hàng, gục ngã từ khuya, và chỉ còn biết cất tiếng bi ai nào là vận nước nổi trôi, nào là thân phận nhược tiểu (như kiểu, nói thẳng luôn, là người Việt Nam chúng ta), nghe xong muốn tắt thở cho rồi.

Bản lĩnh khôn ngoan chánh trị, không ca cẩm đổ lỗi, nói cho cùng, là bài học cần thiết không riêng cho Đài Loan!
Load more

Gallery

Copyright 2018 - Vietnamese Community in South Australia